Các bạn thân mến,
Năm 2008, Chương Trình Á Châu (Asia Programs) của Học viện Kennedy thuộc Đại học Harvard (Harvard Kennedy School) công bố bản tường trình “Giáo Dục Đại Học Việt Nam: Khủng Hoảng và Đối Phó” (Vietnamese Higher Education: Crisis and Response) do hai giáo sư Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson đồng tác giả. Bản tường trình này đã được trình bày trước Ủy Ban Đặc Nhiệm Song Phương về giáo dục đại học Việt Nam (Bilateral Higher Education Task Force). Bản tường trình này cũng được gửi đến Chương Trình Giảng Dạy Kinh Tế Fulbright (Fulbright Economics Teaching Program), trung tâm nghiên cứu và giảng dạy về chính sách công cộng (public policy) tại Việt Nam.
Trong bối cảnh giáo dục đại học và giữa lúc những bậc trí thức nước nhà đang tìm một con đường thay đổi toàn diện nhằm đưa nền giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng bước ra khỏi tình trạng khủng hoảng để có thể bắt kịp các nước trong khu vực, mình mong muốn chia sẻ những thông tin này với các bạn để chúng ta cùng suy nghĩ và có những đóng góp thiết thực vào tiến trình xây dựng nền giáo dục đại học.
Về tầm mức của sự khủng hoảng, bản tường trình cho rằng, nếu chúng ta không có sự thay đổi khẩn cấp từ nền tảng, thì Việt Nam sẽ không thể đạt được những tiềm năng to lớn của chính mình. Sự phát triển kinh tế của khu vực Đông và Đông-Nam Châu Á chứng tỏ sự liên đới chặt chẽ giữa công cuộc phát triển và nền giáo dục đại học. Cho dù mỗi quốc gia trong khối quốc gia thành công nhất ở khu vực – Nam Hàn, Đài Loan và sau này là Trung Quốc - đều có con đường phát triển đặc thù của mỗi nước, họ vẫn phải có một quyết tâm theo đuổi mục tiêu đại học chất lượng cao và khoa học tiên tiến. Đó là điểm chung trong mọi thành công mà họ đã đạt được. Những nước it thành công hơn ở Đông-Nam Châu Á là Thái Lan, Phi-Líp-Pin và In-Đô-Nê-Xi-A; những quốc gia này nói chung không đạt được tầm đại học chất lượng cao và lãnh vực khoa học tiên tiến, và do đó họ thất bại trong công cuộc phát triển nền kinh tế hiện đại. Điều đáng nói ở đây là đại học Việt Nam vẫn còn kém xa ngay cả so với những người bạn láng giềng này.

Cho tới thời điểm hôm nay thì Việt Nam vẫn chưa có được một đại học nào được công nhận chất lượng cao. Có thể nói rằng đại học Việt Nam đã bị cách biệt với nền tri thức hiện thời của thế giới. Điều này được chứng minh qua tổng số công trình nghiên cứu khoa học so sánh với khu vực. Đứng đầu là Đại học Quốc gia Nam Hàn với 5060 công trình nghiên cứu, theo thứ tự là Đại học Quốc gia Singapore (3598), Đại học Bắc Kinh (3219), Đại học Fudan (2343), Đại học Mahido của Thái Lan (950), Đại học Chulalongkorn (822), Đại học Malaya của Mã-Lai (504), Đại học Quốc gia Phi-Líp-Pin (220), trong khi đó hai Đại học Quốc gia Việt Nam chỉ có 52 công trình nghiên cứu và Viện Khoa Học và Kỷ Thuật Việt Nam có 44 công trình.
Một trong những thước đo về chất lượng đại học là văn bằng sáng chế. Vì đó là kết quả của công trình nghiên cứu tại đại học hoặc viện nghiên cứu, đã đưa tới cái mới được sáng tạo và được công nhận. Về văn bằng sáng tạo trong năm 2006, Nam Hàn dẫn đầu với 102633 văn bằng, theo thứ tự là Trung Quốc (26292), Singapore (995), Thái-Lan (158), Mã-Lai-Á (147), Phi-Líp-Pin (76), trong khi Việt Nam không có một văn bằng sáng chế nào cả (0).
Đại học Việt Nam không đào tạo nguồn năng lực lao động đáp ứng đúng cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam đòi hỏi. Những công trình tham khảo của chính phủ cho thấy có tới 50% sinh viên tốt nghiệp đại học không tìm được công việc theo chuyên môn của mình, điều này cho thấy có khoảng trống lớn giữa lớp học và nhu cầu thực tế đòi hỏi.

Một minh chứng điển hình là công ty Intel đã gặp khó khăn trong việc tuyển chuyên viên kỷ thuật cho cơ sở sản xuất ở thành phố Hồ Chí Minh. Intel cho kiểm tra 2000 ứng viên công nghệ thông tin (IT) qua một bài thi cơ bản thì chỉ có 90 ứng viên đạt yêu cầu (5%), và trong số 90 ứng viên đó thì Intel chỉ nhận 40 người (2% trên tổng số 2000) là có đủ trình độ Anh văn đáp ứng công việc chuyên môn.
Bản tường trình chỉ ra nguyên nhân chính trực tiếp gây ra tình trạng khủng hoảng này là sự thất bại trầm trọng trong chính sách quản trị. Cụ thể là tất cả cơ sở học đường Việt Nam được đặt dưới sự kiểm soát tập trung từ trung ương hay chính phủ trung ương. Trung ương quyết định bao nhiêu sinh viên được ghi danh, mức lương giảng viên là bao nhiêu (đối với hệ thống đại học công lập), cho tới vấn đề điều hành hoạt động nhà trường như tặng thưởng, bố trí giảng viên cũng do trung ương kiểm soát. Chính sách này, ở một góc độ nào đó, ngăn cản đại học phát huy năng lực cạnh tranh và sự sáng tạo.
Nạn tiêu cực, tham nhũng trong nhà trường ở tình trạng nghiêm trọng, tình trạng mua bằng cấp và chức vị đã trở thành phổ biến. Ở đây, chúng ta phải phân biệt những nhà giáo và trí thức chân chính không thuộc trong những đường dây tiêu cực. Chính sách đề cử, thu dụng nhân sự không minh bạch, không dựa trên tiêu chí học thuật mà thông thường qua các kênh nhân thân, lý lịch chính trị, hoặc quan hệ cá nhân.
Kiến thức là một lãnh vực không biên giới, trong khi đó học viện Việt Nam lại thiếu sự mở rộng quan hệ với thế giới. Chúng ta cần nhấn mạnh là sự mở rộng quan hệ và tiếp thu có chọn lọc, học những tinh hoa của nhân loại và nâng mức thang tiêu chuẩn lên ngang hàng với những đại học tiên tiến của thế giới. Trí thức trẻ Việt Nam được đạo tạo ở nước ngoài nêu quan tâm là họ không thể theo kịp sự tiến bộ trong lãnh vực chuyên môn, đó là một trong những nguyên nhân chính tại sao những trí thức này không theo đuổi sự nghiệp học thuật ở Việt Nam. Điều này, giáo sư Hoàng Tụy cũng đã phản ảnh là nền giáo dục Việt Nam chỉ tự nhìn vào chính mình chứ không so sánh với những tiêu chuẩn của thế giới.
Đại học Việt Nam còn thiếu trách nhiệm với những người ngoài xã hội quan tâm đến lãnh vực giáo dục và luôn cả với nguồn nhân sự gắn bó với đại học. Trong hệ thống công lập, ngân sách không gắn liền với hiệu quả hoặc chất lượng đào tạo theo đúng nghĩa của nó. Tương tự, nguồn vốn tài trợ của chính phủ cấp cho công trình nghiên cứu không theo khả năng thật của nghiên cứu sinh và thiếu tính cạnh tranh. Bởi vì cổng vào của đại học không rộng mở - chỉ có 1 phần 10 người trong độ tuổi đại học tiếp tục vào chương trình sau đại học – Đại học Việt Nam không cảm thấy áp lực để sáng tạo và tăng sức cạnh tranh. Do đó, du học nước ngoài là một chọn lựa, nhưng giải pháp này chỉ có thể đáp ứng cho một thiểu số thật nhỏ mà thôi.
Về vấn đề tự do học thuật thì đại học Việt Nam, so ra, còn kém cả Trung Quốc. Đại học Việt Nam thiếu hẳn sự năng động về tri thức. Cho dù gần đây các trường đại học dần dần nới rộng không gian học thuật, nhưng một mạng lưới chính thức lẫn bán chính thức vẫn kiểm soát chặt chẻ và những rào cản vẫn duy trì; điều này đã làm chậm sự phát triển của tri thức trong khi đó trào lưu tiến bộ của xã hội thì luôn tiến tới và sinh động.
Vấn đề ở đây là rào cản chính cho sự phát triển đại học chất lượng cao chưa phải là tài chánh hay ngân sách. Thật ra, so với các nước trong khu vực thì Việt Nam chi cho ngân sách giáo dục nhiều hơn tính trên tổng sản lượng quốc gia. Đó là chưa kể đến nguồn tài chánh lớn mà gia đình đầu tư vào giáo dục cho con em ở trong nước và ở cả nước ngoài. Vậy thì, đồng tiền được sử dụng như thế nào mới là vấn đề. Trừ phi môi trường chuyên môn được thay đổi toàn diện; nếu không thì không chắc rằng số trí thức trẻ được đào tạo ở nước ngoài sẽ trở về phục vụ lãnh vực giáo dục.
Để đối phó với sự khủng hoảng, chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách cải tổ giáo dục trong nhiều năm qua. Năm 2005, chính phủ Việt Nam thông qua Nghị quyết 14 về “Cải tổ toàn diện giáo dục đại học” vào năm 2020. Đó là một bước ngoặt, một hy vọng cho sự thay đổi về vấn để quản trị trong đó bao gồm mở rộng quyền điều hành đại học và khung khen thưởng theo năng lực. Trong khi vẫn chưa đo lường được tác động của Nghị quyết 14 đối với tiến trình thay đổi chính sách thì nhịp độ thay đổi vẫn còn chậm chạp.
Gần đây hơn, chính phủ Việt Nam công bố một dự luật cho thành lập một số học viện liên kết với đối tác nước ngoài và nguồn vốn dự tính vay từ tổ chức tài chánh quốc tế như Ngân hàng Thế giới. Mặc dù dự luật này được xem như bước đầu tiến tới việc xây dựng những đại học cao cấp hơn, hình thức liên kết này vẫn tồn đọng nhiều câu hỏi bỏ ngõ. Những nhà hoạch định chính sách giáo dục vẫn còn duy trì cách suy nghĩ “hạt nhân trung ương”, xem việc giáo dục đại học thuộc về nhà nước thay vì thuộc về các học viện. Thứ hai, chính phủ thể hiện não trạng “kế hoạch tập trung” trong việc hoạch định (thiết kế) phát triển dạng học viện liên kết này, bao gồm việc quyết định cho phép những đại học mới được chuyên trách vào những lãnh vực nào (dự thảo đầu tiên đề nghị tập trung vào những ngành liên quan đến khoa học và kỷ thuật, có lẽ loại bỏ những ngành khoa học xã hội và nhân văn). Thứ ba, cho dù dự luật khẳng định (predicated) trên nguyên tắc đối tác nước ngoài sẽ trách nhiệm khâu quản trị hành chánh và giảng viên, nguồn ngân sách vẫn chưa được rõ ràng; không biết rằng nguồn vốn vay từ những tổ chức tài chánh quốc tế có được dùng cho đối tác nước ngoài hay là không? Cuối cùng, để xem rằng những đại học liên kết này có thực quyền tự quản được đến đâu.
Số lượng sinh viên Việt Nam du học đã tăng nhanh kể từ năm 1986. Trong những năm đầu của chính sách đổi mới, hầu hết chương trình du học được thực hiện qua chương trình học bổng song phương hoặc đa phương như chương trình Fulbright, chương trình Ngân Hàng Thế Giới,… Xã hội Việt Nam đã phồn thịnh hơn, gia đình Việt Nam đã bắt đầu đưa con em du học theo dạng tự túc. Những năm gần đây con số sinh viên Việt Nam du học ở Hoa-kỳ đã tăng vọt; theo thống kê của Viện Giáo Dục Quốc Tế (Institutes for International Education), Việt Nam là một trong 20 quốc gia đứng đầu danh sách du học sinh ở Hoa-kỳ. Các kinh tế gia Việt Nam ước tính gia đình Việt Nam hiện đang chi trả khoảng một tỉ Mỹ kim cho việc du học.
Du học nước ngoài là một cách đối phó quan trọng với sự khủng hoảng giáo dục đại học Việt Nam. Tuy nhiên đó không có nghĩa là giải pháp thích đáng. Điều đầu tiên và hơn hết, du học nước ngoài chỉ là một lựa chọn cho một thiểu số cực nhỏ, những người có khả năng tài chánh hoặc may mắn đạt được một học bổng. Có một khoảng cách ngày càng lớn về cơ hội giữa người thành thị và nông thôn, giữa một nhóm giầu có và tuyệt đại đa số nghèo khó. Việt Nam là một đất nước rộng lớn và không có thể nào “xuất khẩu” giáo dục đại học tới các đại học nước ngoài. Thứ đến, cho đến khi nào đại học Việt Nam vẫn còn tiếp tục duy trì điều kiện làm việc yếu kém và chính sách đãi ngộ không xứng đáng, thì những người học ở nước ngoài tiếp tục né tránh sự nghiệp ở đại học. Những thăm dò không chính thức về sinh viên tốt nghiệp ở Hoa-kỳ cho thấy hầu hết sẽ không trở về đại học Việt Nam trong điều kiện hiện tại, nhưng sẽ nghĩ đến khả năng trở về nếu môi trường chuyên môn trở nên tốt hơn.
Những nhà tài trợ thế giới đã hỗ trợ sự thay đổi trong nhiều năm qua. Theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam, nhà tài trợ đã đầu tư rất nhiều vào hệ thống giáo dục đại học. Trong cách nhìn của tác giả bản tường trình thì những nỗ lực của nhà tài trợ chưa đạt được hiệu quả bởi vì họ không thể làm được gì nhiều khi đối mặt với những vấn đề về quản trị. Nguồn tài trợ không được cấp dựa trên căn bản tiêu chí cạnh tranh, và những nơi nhận tài trợ báo cáo rằng tiếng nói của họ quá ít ỏi trong việc nguồn tài trợ đó được sử dụng như thế nào.
Đại học thế giới được khuyến khích thành lập những chương trình đào tạo tại Việt Nam, độc lập hoặc (phổ thông nhất) là liên kết với đại học trong nước. Với một vài trường hợp ngoại lệ, những loại đại học này chủ trương kiếm lợi nhuận, và kết quả là chỉ tựu trung vào một số lãnh vực thực dụng cho nhu cầu thị trường (như tiếp thị, quản trị, lập trình,…) Tiêu chuẩn sinh viên chủ yếu dựa trên khả năng tài chánh, và vượt ngoài tầm tay cùa tuyệt đại đa số ngoại trừ một thiểu số nhỏ. Có thể nói rằng những mô hình kinh doanh này bù đắp một mảnh nhỏ trong tổng thể hệ sinh thái đại học. Mô hình này không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi cho giáo dục chất lượng cao.
Việt Nam mong mỏi sự hợp tác của những học viện hàng đầu thế giới, đặc biệt là đại học Hoa-kỳ. Tác giả bản tường trình lập luận rằng có it nhất ba yếu tố then chốt cho mục tiêu này. Thứ nhất, chính phủ Việt Nam phải nhận ra rằng những đại học danh tiếng Hoa-kỳ sẽ không vào Việt Nam như là một nhà đầu tư. Yếu tố thứ hai, và không kém quan trọng, là những đại học danh tiếng này sẽ không hạ thấp chất lượng giảng dạy và chính phủ Việt Nam phải quyết tâm vào vấn đề trọng điểm là chính sách quản trị đại học tốt, bao gồm mở rộng tự do học thuật và tự quản hơn nữa so với tình hình hiện nay. Cuối cùng, bởi vì hệ thống đại học Hoa-kỳ gần như hoàn toàn độc lập với nhà nước, chính phủ Hoa-kỳ chỉ đóng một vai trò rất khiêm tốn trong việc khuyến khích sự tham gia của đại học Hoa-kỳ vào Việt Nam.
Kết luận, thay đổi toàn diện chính sách quản trị là chìa khóa để cải tiến giáo dục đại học Việt Nam. Tuy nhiên, thay đổi giáo dục bất kỳ ở nơi đâu cũng là một quy trình lâu dài. Đó là lý do tại sao Việt Nam nên xây dựng một học viện cao cấp mới từ chính sách quản trị tốt hơn cho đến cốt lõi của chương trình giảng dạy. Nhóm tác giả bản tường trình này có đề nghị chính phủ Việt Nam hình thành một nhóm đại học Hoa-kỳ từ đó xây dựng một đại học nghiên cứu, bước đầu là đào tạo hệ đại học và sau đó những chương trình sau đại học. Nỗ lực này sẽ tác động mạnh vào tiến trình thay đổi hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Một học viện mới như thế có thể hấp dẫn những trí thức và nhà khoa học trẻ. Nó cũng có thể là một mô hình để các đại học khác noi theo và thay đổi – cũng coi như là một môi trường học thuật lành mạnh hơn và cạnh tranh hơn. Tác giả bản tường trình tin rằng Ủy Ban Đặc Nhiệm Song Phương về giáo dục đại học Việt Nam sẽ đóng một vai trò đặc biệt trong việc thúc đẩy tiến trình thay đổi bằng cách hoạch định một lộ trình tích cực và toàn diện cho công cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam.
Các bạn thân mến,
Sau khi đọc bản tường trình này thì mình có đôi điều băn khoăn. Có đúng những nguyên nhân tác giả trình bày là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng? Nếu không phải thì là nguyên nhân nào? Nhưng, nếu đúng đó chính là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng thì sao? Ai là người và làm thế nào để thoát ra sự khủng hoảng này?
Có một số liệu đáng chú ý, đó là: có tới 50% sinh viên tốt nghiệp đại học không tìm được công việc theo chuyên môn của mình, và chỉ có 2% ứng viên IT đủ khả năng làm việc với công ty Intel. Để học hết chương trình trung học phổ thông đã là một việc rất khó khăn với cá nhân học sinh và cả với bậc cha mẹ (các khoản chi phí nhà trường), và cực kỳ khó khăn bước vào cổng đại học, chưa kể là làm thế nào để đi hết con đường đại học. Các bạn ở trong nước hẳn biết rõ điều này.
Câu hỏi đặt ra là: Vậy, 50% sinh viên tốt nghiệp đại học không kiếm được đúng công việc chuyên môn thì số sinh viên này có thể làm được gì? Họ có thể trở lại đại học để theo một ngành khác (nhưng phần trăm cơ hội kiếm đúng việc làm cũng vẫn là 50/50)? Họ còn có kiên nhẫn và quyết tâm đi tiếp thêm bốn năm đại học và gia đình còn có đủ tài chánh để chu cấp cho việc học này?
Ngân sách giáo dục Việt Nam cho năm 2008 là 76.200 tỉ đồng VN (bảy mươi sáu ngàn hai trăm tỉ đồng VN tương đương bốn tỉ Mỹ-kim), tăng 14.1% so với năm 2007. Nếu lấy mốc năm 2008 trở về trước 16 năm, với ngân sách giáo dục tăng trung bình 10% hàng năm thì tổng ngân sách giáo dục trong 16 năm qua vào khoảng 32.5 tỉ Mỹ-kim, chưa tính tới số đóng góp không nhỏ của gia đình. Một số tiền khổng lồ đối với đất nước còn nghèo như Việt Nam, cộng với 16 năm miệt mài đèn sách (12 năm phổ thông + 4 năm đại học) của hàng chục triệu thanh thiếu niên để rồi chỉ đạt được 50% kết quả. Một sự lãnh phí quá lớn, nhất lại là lãng phí chất xám.
Tài nguyên thiên nhiên quốc gia đã bị khai thác triệt để, vẫn tiếp tục khai thác và đang cạn kiệt (các bạn chắc biết rõ hơn mình). Theo mình thì đất nước Việt Nam chỉ còn duy nhất một tài nguyên đáng kể: đó là chất xám hay tri thức. Chúng ta không thể nào để lãng phí tài nguyên cuối cùng này.
Sự thật hiển nhiên là học sinh, sinh viên là người lãnh nhận trực tiếp hậu quả của sự khủng hoảng giáo dục, hay nhìn ở góc độ khác là kiến thức tích lũy và tương lai mai sau của các bạn lệ thuộc phần nhiều vào chất lượng giáo dục ngày hôm nay. Đúng là giới học sinh, sinh viên không phải là nhà hoạch định chính sách, nhưng với tư cách là người trực tiếp bị tác động bởi chính sách, mình nghĩ rằng các bạn phải có tiếng nói tích cực, cộng với hành động xây dựng với tất cả tinh thần trách nhiệm của người sinh viên, trí thức và người công dân.
Bản tường trình có một dẫn chứng – và nếu chúng ta tỉnh táo quan sát thì cũng nhận ra – đó là: những quốc gia phát triển hàng đầu trong khu vực đều gắn liền với đại học chất lượng cao và khoa học tiên tiến, như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore và Nhật Bản. Chính vì thế, nếu con đường hiện tại đưa chúng ta đến sự khủng hoảng, thì dứt khoát chúng ta phải khai phá một con đường mới thông thoáng hơn, nhanh hơn, và hiệu quả hơn. Những nghiên cứu khoa học của chuyên gia nước ngoài đương nhiên có những giá trị để chúng ta suy nghĩ, đồng thời mình nghĩ rằng các bạn sinh viên và giới trí thức trong nước cũng có thể thực hiện những công trình nghiên cứu quanh chủ đề này, hoặc kết hợp lại với nhau cùng thúc đẩy tiến trình cải cách giáo dục toàn diện.
Nếu không, mình e rằng với cách thức hiện tại, vừa xây dựng vừa lãng phí, thì Việt Nam khó có cơ hội bắt kịp các nước quanh khu vực và bạn bè thế giới trong thế kỷ 21 này.
Thân chào,
Nhóm Thiện Nguyện VietKids